Có lẽ một dòng sông,
Một đỉnh nhà thờ,
Gió.
Xa lắm rồi… (“Trong miền ký ức”)
Những lời thơ của Hoàng Hưng khi được Phú Quang phổ nhạc ngân vang tha thiết, mở ra một khoảng mênh mông của kỷ niệm, những hồi ức chợt hiện, chợt tan nhưng hằn lâu, bền sâu thăm thẳm trong tâm hồn. Mỗi người đều có một “miền ký ức” của riêng mình, gắn với một quãng đời và đi theo suốt cuộc đời, trở thành động lực để vươn xa rồi trở về trong hành trình sống bất tận. Với nhà văn Vũ Thư Hiên, miền ký ức của ông chính là “Miền thơ ấu” được ông dệt nên bằng ngôn từ trong sáng, gần gũi, giàu cảm xúc. Cuốn sách mở ra cho người đọc một “Miền thơ ấu” phong phú, muôn màu với những đối lập: gần gũi, thân thương, trong trẻo, tươi đẹp, lãng mạn nhưng cũng không ít ngậm ngùi, xót xa từ hiện thực cuộc sống nghèo khó, mất mát, những số phận bi thương của người thân, người quen. Lật từng trang sách, mỗi người đọc, nhất là những người đọc có tuổi thơ gắn với ruộng đồng, xóm làng, như được xem muột cuốn phim quay chậm, ngược dòng thời gian trở về với chính tuổi thơ của mình đong đầy yêu thương, nhớ nhung, hoài niệm. Thế giới ấy chạm vào sâu thẳm tâm hồn ta tình quê, tình người, đức tin, sự gắn bó, sẻ chia và khát vọng vươn xa từ đời sống thực tại tối tăm, khắc nghiệt.
1. “Miền thơ ấu” – một miền ký ức vời vợ mênh mang, xa thẳm
Nhà văn Vũ Thư Hiên sinh năm 1933 tại Hà Nội, có bút danh khác là Kim Ân. Ông nhận giải A Văn học Thiếu nhi của Hội nhà văn Việt Nam cho tác phẩm “Miền thơ ấu”. Ông cũng là tác giả của một số truyện ngắn đặc sắc được in trong tập “Hoa cúc dại” do Nhà xuất bản Phụ nữ ấn hành năm 2019. Cuộc đời nhiều thăng trầm, biến động khiến tác phẩm của ông mang nhiều suy tư, chiêm nghiệm về cuộc sống, con người được khai thác từ chính các yếu tố tiểu sử của mìnnh.
“Miền thơ ấu” là tác phẩm xuất sắc, được biết đến nhiều nhất của ông, đã từng được trao giải A Văn học Thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1988. Nhà văn Tô Hoài đã vinh danh Vũ Thư Hiên và “Miền thơ ấu”, coi tác phẩm là viên ngọc sáng của văn học thiếu nhi. Tác phẩm được Nhà xuất bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh in lần đầu năm 1988; sau đó được nhà xuất bản Kim Đồng tái bản vào năm 1994. Ấn bản gần đây nhất được nhà xuấn bản Đà Nẵng và công ty Phanbook phát hành năm 2018 và tiếp tục được tái bản nhiều lần sau đó. Với việc khai thác câu chuyện trong một quãng đời thơ ấu tươi đẹp gắn với bối cảnh lịch sử đất nước những năm 1940 ở một vùng quê nghèo, cùng biết bao thân phận người bi thương, “Miền thơ ấu” có thể coi là một cuốn hồi ký hoặc một tác phẩm tự truyện.
2. “Miền thơ ấu” – thế giới của hiện thực tăm tối, bi thương, day dứt
Cuốn sách gồm hai mươi mốt chương nhỏ, mỗi chương như một cảnh phim trong tổng thể bộ phim lớn “Miền thơ ấu” kể cho ta một câu chuyện gắn với một mảnh đời, một số phận trong ký ức cậu bé Thư. Vì thế, dù là miền ký ức của một cá nhân nhưng tác phẩm đã làm sống dậy cả bức tranh hiện thực về một miền quê nghèo dưới chế độ thực dân nửa phong kiến thời kỳ tiền Cách mạng tháng Tám. Trong thế giới ấy, người đọc bắt gặp tình cảnh sống bi đát của con người Việt Nam: những người hoạt động cách mạng bị mật thám rình rập, bắt bớ, tra tấn; cuộc sống nghèo đói, cùng cực, tăm tối của người dân quê suốt đời chăm chỉ, làm việc cật lực vẫn không đủ ăn, đủ mặc; nạn đói tràn về đẩy những xóm nghèo vào tình cảnh chết chóc, thê lương. Ở đó, những người nông dân vẫn loay hoay tìm con đường thoát khỏ nơi tù đọng của làng quê bằng con đường lên rừng làm nghề sơn tràng hay xuống biển đi theo thuyền đánh cá. Thế nhưng người thành công, trở nên giàu có, trở thành thương lái thì ít, còn đa số vẫn sống kiếp làm thuê, đánh đổi sức lực, thậm chí cả sinh mạng lấy cái ăn. Người ở làng thì quanh quẩn với ruộng vườn, nuôi gà, nuôi lợn, chăm cá, trồng dâu nuôi tằm, dệt vải, làm quanh quẩn các việc lặt vặt như làm hàng xáo để sống cầm cự, lay lắt qua ngày. Vì nghèo đói, quẩn quanh nên con người quê, dù là anh, chị, em hay họ hàng thì họ cũng đối xử với nhau khá cay nghiệt. Họ toan tính tủn mủn, keo kiệt, thậm chí rẻ rúng, đề phòng nhau từng li từng tí, luôn sợ chị em tới vay mượn, nhờ vả hay ăn trộm. Trong những dòng hồi ức của mình, “Tôi” kể rất tỉ mỉ về những thói quen sinh hoạt ở nhà cô Gái, về sự khắt khe và hà tiện của cô khi tính toán từng lẻ gạo, con cá, miếng thịt trong bữa ăn, từng giọt dầu khi đốt đèn; về sự đối xử hà khắc của cô với các cháu, với những người chị em khác, nhất là những chị, em nghèo có phần khinh thường, luôn đề phòng sợ họ tới vay mượn hay ăn trộm gì. Cái đói, cái nghèo, những lo xa về bất trắc đã khiến một người đàn bà trở nên cay nghiệt, khắc khổ với người khác và với chính bản thân. Để rồi, cô trở thành một nỗi e dè, sợ hãi của mọi người, thành đề tài để thiên hạ đàm tiếu khi tiền để dành bị mối xông mất khá nhiều, tiếc rẻ dán lại mang đi chợ tiêu và bị phát hiện. Những câu chuyện bi hài vừa thường vừa xót tưởng chừng nhỏ nhặt trong cuộc sống hàng ngày ở một gia đình có hai cô cháu lại mang sức khái quát lớn lao, gợi ra tính cách, lối sống của biết bao người nông dân một thời, cũng là bản tính ở một lớp người chưa xa và vẫn còn đang hiện hữu trong xã hội ngày hôm nay, nhất là ở nông thôn.

Với lối viết gần gũi, lời văn mộc mạc như lời tâm tình thật thà của một cậu bé, từng trang “Miền thơ ấu” mở ra biết bao số phận, cảnh đời của những người thân, họ hàng dưới thôn quê. Mỗi nhân vật được thể hiện chi tiết hay xuất hiện thoáng qua đều gây ấn tượng mạnh mẽ, gợi nhiều cảm xúc, suy tư về những phận người trong cảnh ngộ éo le. Họ vừa là sản phẩm của hoàn cảnh và cũng là… nạn nhân của chính mình. Cô Gái được “Tôi” kể lại nhiều nhất, biết rõ nhất tất cả do sống chung nhà, chứng kiến bao sự việc, biến cố xảy ra. Cô sống suốt đời đồng trinh, một lòng thờ Đạo, dành những gì quý giá nhất cho Chúa nhưng đến cuối đời chính cô cũng nghiệm ra Chúa không thể giúp con người tất cả, có những việc nguyện cầu chẳng thể giải quyết được gì. Theo cảm nhận của bé Thư thì cô Gái không phải người ác, người xấu nhưng cô cũng không giúp đỡ người. Tính cách cay nghiệt, hà khắc của cô khiến những tình cảm tốt đẹp, sự hi sinh lặng lẽ, tấm lòng dành cho tổ tiên, lo lắng cho gia tộc bị che lấp mất. Cô như một cuốn lịch sống của dòng họ, nhớ từng ngày giỗ chạp, việc lớn việc nhỏ, thờ phụng ông cha, gìn giữ ngôi nhà thờ tự. Điều tốt đẹp nhất cô dành cho cháu là việc giáo dục nghiêm khắc theo nền nếp gia giáo, biết lễ nghĩa, ứng xử phải đạo. Dù nghiêm khắc đến nghiệt ngã nhưng cô vẫn dành cho cháu tình yêu thương lớn lao, để cháu ngấm ngầm giúp họ hàng, người dân mà không hề trách phạt. Những lần cháu lấy trộm đồ ăn, rồi lấy gạo cho người đói, cô Thiệp về lấy đồ cũ của ông bà đem bán, cô biết nhưng cũng không trách mắng hay dùng đòn roi trừng phạt như thường làm. Chỉ đến khi rời nhà cô Gái về lại Hà Nội, khi trưởng thành hơn, hiểu được cuộc sống, con người thì “Tôi” mới chiêm nghiệm ra nhiều nỗi niềm, số phận, cả bi kịch một đời người phụ nữ chẳng dám sống cho mình, là mình, luôn bị mang tiếng và bị mọi người xa lánh.
Không riêng cô Gái, những người cô khác cũng được “Tôi” dành những tình cảm đặc biệt, lần lượt xuất hiện với những số phận, tính cách riêng trong dòng nhớ. Cô Nhung già, nhăn nheo, gầy cao như cái mắc áo. Cô cũng sống một mình suốt đời trong nghèo khó nhưng khác cô Gái cay nghiệt, cô hiền hậu, trìu mến, luôn cảm thông với mọi người. Cô Oanh giàu có nhưng xa cách với mọi người, khinh thường các em nghèo. Cô ở trong ngôi nhà lớn của bác Cả như một quản gia, là điển hình của một người sạch rởm, ai sang chơi cũng sợ làm bẩn nhà, phải đứng xa xa. Cô Nhất ở với cô Oanh, già xọm, xấu một cách dữ tợn. Chồng mất sớm, cô ở vậy, sống như một cái bóng, không khác con ma sống là bao khiến đám cháu sợ hãi. Còn cô Thiệp lấy chồng xa nhưng gặp chồng cờ bạc, phá hết cả gia sản giàu có. Cô là kiểu người hiền, nhẫn nhục chịu đựng đến tội nghiệp, lúc nào cũng sợ hai, phải lựa người khác, nịnh người khác để tìm sự an toàn cho mình. Gia cảnh túng quẫn khiến cô phải mang chị Liễu – con gái về nhà cô Gái gửi, rồi phải trộm đồ nhà cô Gái về đem bán đong gạo. Mỗi người cô một số phận, một mảnh đời nhưng đều chung bi kịch cô đơn, suốt một đời toan lo, hi sinh lặng lẽ trong muôn vàn cay đắng. Đó phải chăng là số phận của người phụ nữ trong hoàn cảnh đặc thù, khi lễ giáo và những nền tảng đạo đức vẫn phong kín cuộc đời họ, khi cái đói và miếng ăn luôn ám ảnh và gánh nặng mưu sinh oằn trên vai? Mỗi người cô là một thân phận người như tự mang trong mình một nỗi khổ hạnh trong nỗi đau khổ chung của dân tộc bị đô hộ, áp bức.
Cả những thế hệ phụ nữ nối tiếp họ thì cảnh đời cũng không sáng lạn hơn. Đó là chị Phương, con bác Hai Thực gầy đét, hiền lành, đen nhẻm, xương xẩu, vất vả quanh năm, gánh vác mọi việc trong gia đình trên đôi vai gầy nhỏ bé. Chị từng muốn đi tu (vào nhà mụ) để được sống thảnh thơi hơn nhưng kết cục chị vẫn chọn âm thầm hi sinh, ở lại nhà lo cho cho mẹ, cho các em, tự gánh lấy mọi thứ việc dồn vào mình như cuộc đời vốn thế. Không hiểu sao quyết định của chị Phương lại khiến bản thân mình khi đọc “Miền thơ ấu” của Vũ Thư Hiên nhớ đến nhân vật chị Tâm trong truyện “Cô hàng xén” của Thạch Lam. Có lẽ đức hi sinh, sự cam chịu, chắt chiu, lo lắng cho gia đình, sống cho cha mẹ và các em là ý nghĩa của cuộc đời họ, khiến họ mang chung số phận bi thương và những phẩm chất cao quý của người phụ nữ muôn đời. Ngay cả chị Liễu, con cô Thiệp, được mẹ gửi ở lại nhà cô Gái, bác của mình, cũng sống lặng lẽ, nhẫn nhục, đúng kiểu một người phải đi ăn nhờ ở đậu, tới cơm cũng không dám ăn no. Rồi chị phải lén bớt phần cám cho lợn ăn để dành cho mình, dù chị vẫn làm việc không ngừng từ việc nhà đến giúp cô Gái làm thuốc, đi chợ, dệt vải, … Cuộc đời lầm lũi của chị Liễu, chị Phương, của các bà cô khiến “Tôi” nhớ lại trong niềm day dứt, khắc khoải khôn nguôi về những thân phận người, cảm thấy lạ lùng, bất công mà cũng rất thương tâm, chua xót.
Nhưng đâu chỉ riêng những người phụ nữ, sống trong một thời kỳ cùng cực, tăm tối như vậy, ai cũng là nạn nhân của hoàn cảnh, kể cả đàn ông, các đấng nam nhi. Ở trong “Miền thơ ấu”, những số phận lạc thời, cay cực của mấy người họ hàng xa gần vốn là nhà nho được tác giả kể lại cũng vô cùng day dứt. Họ là những nhà nho lỡ thời nhưng không thể thích ứng, thay đổi trong bối cảnh xã hội Thực dân “vứt bút lông đi gọt bút chì” nên sống cả đời bi kịch, làm khổ mình khổ người thân. Đó là bác Hai Thực sống trong gia cảnh nghèo khó nhưng vẫn không bỏ thói quen, quan niệm sống của nhà nho xưa, cả đời không đụng chân tay vào việc gì, gia trưởng đến gàn dở. Toàn bộ công việc mưu sinh đổ lên đầu bác gái, chị Phương, anh cu Lớn. Cả gia đình sống bấp bênh, bữa no bữa đói, có khi phải ăn hạt sản thay cơm. Bác còn chấp nhận sự coi thường, khinh miệt của những bà chị như cô Gái, cô Oanh. Đến cuối tác phẩm, ta thấy số phận của chú Khoá còn bi đát hơn rất nhiều bác Hai Thực. Một người theo nho học, hiểu sách thánh hiền mà chẳng thể kiếm nổi miếng ăn, sống lẻ loi, vất vưởng, không có người phụ nữ nào lấy. Và chú cũng là điển hình của kiểu học trò phong kiến “Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm” mà cậu bé Thư không nhớ nổi tên, gọi chung chung theo định danh công việc học hành là “Khoá” viết hoa. Hơn bốn mươi tuổi, chú phải về ở nhờ nhà cô Gái, đi làm thuê bấp bênh, để rồi cuối cùng, không thể kiếm được việc phải ăn rau má, phải sống nhờ ông Bổng, người trông nhà đòn trong chùa làng, cũng là mõ làng. Kết cục chú Khoá ra đi trong bệnh tật, ốm đau vì ăn những đồ thừa thãi, hư hỏng của người bán ở chợ cho. Một đám tang thê lương trong trời mưa lâm thâm chỉ có bốn người gồm ông Bổng, anh Cận khiêng người chết bó trong tấm chiếu; nhân vật “Tôi” và cô Gái. Dẫu thế thì cũng xong một kiếp người bi thương, như một sự giải thoát!
Thế giới của những phận người trong “Miền thơ ấu” đem đến cho chúng ta một góc nhìn chân thực, hồn nhiên của con trẻ nhưng cũng sâu sắc, tinh tế về thời cuộc, về xã hội và con người. Một cậu bé đa cảm hiểu thấu đến tận cùng những biến động của thời thế đã tạo nên bức tranh xám xịt của cuộc sống làng quê và bao số phận đau thương, sống trong bế tắc, chết tức tưởi, đắng cay. Cái làng quê ấy, những phận người ấy cũng là hình ảnh tiêu biểu cho bức tranh chung của xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám tăm tối, đói khổ, tù đọng, quẩn quanh. Điều đó đã được một loạt các nhà văn như Thạch Lam, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, nguyễn Công Hoan, … viết trong tác phẩm của mình. Chỉ khác là, “Miền thơ ấu” của Vũ Thư Hiên nhìn cái hiện thực lịch sử và bi kịch của kiếp người từ cự li gần, từ những câu chuyện rất đời của người thân, họ hàng trong tình cảm, góc nhìn của đứa trẻ thơ từ Hà Nội về, thương cảm, xót đau mà chẳng thể làm gì, giúp gì cho người khác được.
3. “Miền thơ ấu” – Miền nhớ, miền yêu thương của cái đẹp lộng lẫy tuổi thơ
Tuổi thơ của mỗi người luôn mang một nét đẹp nào đó, nhất là khi tuổi thơ ấy được hiện về trong miền nhớ, trong những yêu thương tha thiết. Những nét đẹp hồn nhiên, trong trẻo, vô tư, thuần khiết được bộc lộ qua từng chi tiết, sự kiện rất đỗi bình dị, chân thành, đơn sơ ở “Miền thơ ấu” của Vũ Thư Hiên. Cho nên, một “Miền thơ ấu” hiện lên vẫn mộng mơ, nên thơ, lộng lẫy tuổi dại trên chính phông nền của thực tại xã hội và cuộc sống u ám, tăm tối, nghèo khổ, nhiều đắng cay, xót đau. Và những kỷ ức đẹp miên man ấy lại chảy tràn trong nỗi nhớ thao thiết, sự cảm mến, đồng điệu với từng người thân, họ hàng xa gần của cậu bé Thư.
Tâm hồn trong sáng của một đứa trẻ vẫn lâng lâng trong thế giới hoa mộng của “miền cổ tích tuổi xưa” khi nhớ tới bà ngoại trong những ngày đầu về quê sống cùng bác Gái. Một đứa trẻ 7 tuổi sớm xa gia đình, cha mẹ nhưng “nhớ mẹ thì ít mà nhớ bà thì nhiều”. Có lẽ vì bà ngoại tương phản hoàn toàn với cô Gái – “Cô tôi trông ác bao nhiêu thì bà ngoại tôi trông hiền bấy nhiêu”. Bà đến nhà chỉ để chơi với những đứa trẻ bằng yêu thương, bằng cách đối xử hiền từ, thấu hiểu “rất ngang hàng, y như thể bà bé bằng chúng tôi, hoặc chúng tôi lớn bằng bà”. Thế giới tươi đẹp của bà, của tuổi thơ là những câu chuyện cổ tích lấp lánh, diệu kỳ, là những mơ mộng hồn nhiên và tươi tắn nhất trong cuộc đời con người. Không chỉ là câu chuyện cổ tích bà kể, cuộc đời bà, tâm hồn, cốt cách của bà là tấm gương sáng, là điều mà “Tôi” luôn khắc ghi, nhất là tấm lòng nhân hậu, tình thương người qua từng cử chỉ nhỏ nhất như việc cho tiền những người ăn mày – số tiền có thể ít ỏi song hành động thì cao cả, tử tế, thể hiện sự tôn trọng con người – bà cấm việc ném tiền xuống đất cho người ăn xin mà phải đặt tiền vào tận tay hoặc bỏ vào đấu. Mua bánh đa đường cho cháu, bà không quên dặn cháu mình đem bánh chia cho những đứa trẻ ăn xin khốn khổ. Chính những câu chuyện của bà là bài học lớn để cho “Tôi” nhìn, hiểu đời, hiểu người hơn, nhất là những người ăn mày bởi “biết đâu trong bọn họ lại chẳng lẫn vào một đức Phật Thích Ca trá hình?”
Nhưng rồi, cậu bé Thư cũng phải quen với cuộc sống ở vùng quê nghèo, xa gia đình, hoà mình để trở thành một phần/ một thành viên trong xã hội thôn quê ấy. Người đưa cậu trở thành một phần cuộc sống trẻ thơ tươi đẹp ở làng quê là anh Cu Lớn nhà bác Hai Thực. Bắt đầu là những chuyến đi câu và “Tôi” say mê với trò này. Tuy nhiên, với anh Cu Lớn thì đi câu là một hình thức mưu sinh còn cậu bé Thư lại coi nó là một trò vui, mà ở đó cậu học được nhiều điều. Kinh nghiệm, kỹ năng thuần thục, điêu luyện, tấm lòng của anh Cu Lớn khiến cậu khâm phục, cảm động. Mọi chuyện, mọi việc cậu đều chia sẻ cùng anh dù nhiều khi bị cô Gái cấm đoán. Cu Lớn – một đứa trẻ nhà nghèo, sớm phải bươn chải kiếm con cá, con tôm cho bữa cơm, đôi khi phải ăn với hạt sản, biết tường tận mỗi loài cá có đặc tính gì, câu mỗi loại dùng cần câu nào, loại dây gì, mồi ra sao. Cậu cũng là người tự trọng, biết nhường nhịn nên khi bị cô Gái mắng đã không lấy tiền cần câu của “Tôi”, rồi nhất định trả lại hai hào cô Gái cho để giữ bí mật vì lo ngại phạm phép Chúa, nhất định trả lại cho “Tôi”. Nối tiếp là những ký ức đẹp đẽ, hoa mộng của việc tập bơi bằng cách cho chuồn chuồn cắn rốn, thả diều, cùng làm thuốc với cô gái, xay giã gạo giúp chị Liễu và các bác, cô làm hàng xáo. Nhân vật “Tôi” dần trở thành một đứa trẻ quê đích thực, cảm nhận được từng vẻ đẹp của ngôi nhà gỗ đang xuống cấp, từng khung cảnh của làng quê xứ đạo với mái nhà thờ, luỹ tre, đồng lúa, cánh cò, những mái tranh, hàng rào duối, hàng rào dâm bụt, hàng rào xương rồng, … Đặc biệt những tiếng hát ru từ những mái nhà tranh bay ra cùng tiếng xa quay ríu rít, tiếng khung cửi kĩu kịt làm nhói lòng, khơi lên niềm xúc động sâu xa trước cái đẹp, cuộc sống bình yên, đầm ấm, hạnh phúc dù khó khăn, nghèo khổ.
Trong “Miền thơ ấu” tươi đẹp, điều tuyệt vời nhất, khiến người đọc xúc động và dừng lại trên mỗi trang sách là tình cảm, tấm lòng chân thành, trong trẻo của một đứa trẻ nhạy cảm, tinh tế và thiện lương. Luôn bị mang tiếng là tinh nghịch, cứng đầu, phải chịu không ít trận đòn khốc liệt của cô Gái nhưng ở bé Thư – nhân vật “Tôi” - luôn toả sáng một tấm lòng, tình yêu thương lớn lao. Từ chỗ xa cách, sợ hãi trước uy lực của người cô, trước đòn roi, cậu bé dần quen nhưng không phải lì đòn mà trở nên mạnh mẽ hơn, hiểu được những điều tốt đẹp cô muốn mình vươn tới. Hơn hết, sống chung với cô, cậu không ghét bỏ mà ngày càng cảm thông hơn, thấm thía được việc hà tiện của cô là để lo xa, phòng thân; thấy được những người cô khinh ghét không phải vô cớ; hiểu rõ những gánh nặng cô phải mang một mình khi những người bác, những người con trai bỏ làng, đi làm cách mạng, không ai thờ tự tổ tiên. Và xúc động hơn cả là cậu thấy được tấm lòng của cô dành cho mình, cho người, những bi kịch cô phải chịu, để rồi cùng sẻ chia, giúp đỡ. Hành động cậu tỉ mỉ ngồi dán lại những đồng tiền của cô Gái bị mối xông còn cứu vãn được đã an ủi cô, thấy mất mát lớn cô phải chịu đựng, thể hiện sự sẻ chia sâu sắc. Rồi khi trở lại Hà Nội, về với gia đình, cậu bé vẫn nhớ, thương, lo cho cô.
Với những người họ hàng gần, xa ở quê nhân vật “Tôi” cũng đều dành cả tấm lòng của mình với họ, cố gắng giúp đỡ họ trong khả năng của mình. Thậm chí có những khi cậu còn làm trái lời cô Gái, có thể phải ăn đòn roi những cậu vẫn giúp vì tình người, vì biết yêu, biết thương mọi người. Cậu yêu kính, thương cảm cô Nhung nhân hậu, luôn bên cậu và những đứa cháu khi bị trừng phạt dù cô bất lực, chẳng có tiếng nói gì… do nghèo. Cậu thương gia đình bác Hai Thực nhất là chị Phương phải chịu nhiều vất vả, nhọc nhằn, thiệt thòi, không dám dành chút gì cho mình, vì mình. Cậu cũng xót cho chị Liễu phải lấy trộm cám lợn ăn khi ở cùng cô Gái và mình. Rồi cậu đồng loã trong vụ lấy trộm đồ của cô Thiệp bởi cậu hiểu hoàn cảnh của cô. Cậu lấy trộm gạo cho chú Khoá, sẵn sàng sẻ chia gạo cho ông Phó Mão lúc nạn đói hoành hành lúc cô Gái đi vắng. Chính hành động đó khiến cậu nhận được lời khen hiếm hoi của cô Gái rằng biết san sẻ, “cũng sáng dạ”.
Một tuổi thơ vời vợi đẹp hơn, thánh thiện và trong ngần hơn bởi đức tin qua xúc cảm và nhận thức của một đứa trẻ. Ba năm sống với cô Gái, bé Thư được cô kỳ vọng trở thành con chiên ngoan đạo, một người theo đạo thuần. Dù ý muốn nhào nặn cậu bé từ kẻ vô thần thành con chiên ngoan đạo của cô Gái không thành nhưng đức tin vẫn thấm trong tâm hồn cậu bé. Đã có lúc, cậu được nhận giải thưởng cuộc thi về giáo lý, thành niềm tự hào của cô nhưng sau trò nghịch dại trẻ nhỏ, bị cô trừng phạt mà Chúa không thể giúp gì nên cậu không còn ý định trở thành kẻ phụng sự Chúa suốt đời như kỳ vọng có lúc nhen lên trong lòng cô Gái và cả cậu. Dù vậy, nhưng những lời kinh, lời răn của cô vẫn đọng lại cái phần hồn cốt, tinh tuý nhất của đức tin, để cậu sống yêu thương, gắn bó, sẻ chia, luôn hướng thiện, hướng đến những điều cao cả. Và cả xóm đạo trong thời đại tối tăm, bế tắc trước Cách mạng tháng Tám, thì dẫu biết Chúa chẳng thể hiện lên mang phép màu, đời sống của nông dân muôn đời là “tay làm hàm nhai” nhưng đức tin giúp họ vươn lên, có sức mạnh tinh thần chống chọi được với những thử thách, vượt qua cái tao đoạn ấy, hướng đến tương lai. Những người ở xứ đạo dù có nhiệt ngã, hà khắc như cô Gái thì họ vẫn sống thiện lành, gắn kết trong yêu thương, có thể mâu thuẫn, xung đột nhưng rồi lại sớm làm lành, đoàn kết, nhà này vẫn sang nhà kia chuyện trò, xin lửa…
Như chính nhân vật “Tôi” thừa nhận niềm tin vào tình yêu đến từ thói quen, sự gắn bó bắt đầu từ việc người ta sẵn sàng chịu đựng, để sống cùng, nương tựa vào nhau. Khi chia tay cô Gái oà khóc, “Tôi” cũng chảy nước mắt, thấy trống trải, thiếu vắng. Theo cách tự nhiên, hồn nhiên nhất, cậu yêu quý cô Gái, những người họ hàng, những người nông dân nghèo khó, yêu miền quê khắc khổ này vô bờ. Để rồi, trở về thành phố, cậu vẫn là một “người nhà quê” gắn với thói quen không thể thay đổi. Cậu bần thần nhớ như lời đáp câu hỏi của mẹ “Con nhớ cô Gái à?”: “Tôi đáp vâng, nhưng tôi biết rằng không phải. Tôi nhớ một cái gì đó lớn hơn”. “Cái gì đó lớn hơn” ấy chính là quê hương, nguồn cội, là một quãng đời tuổi thơ thành “miền thơ ấu” đẹp đẽ, thiêng liêng, ý nghĩa, mà ở đó cậu bé được sống, được yêu, được buồn, được đồng cảm, được học hỏi quá nhiều. Tới mức về gia đình, về với Hà Nội cậu cảm thấy Hà Nội xa lạ, lạnh nhạt với mình. Và cậu đã “thành một đứa trẻ nhà quê hoàn toàn”, không thể đi giày dép mà sống với thói quen đi chân đất. Âu cũng là lẽ tự nhiên bởi “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi đất đã hoá tâm hồn” (Chế Lan Viên)
4. “Miền thơ ấu” – Miền mơ ước và khát vọng vươn xa
Mỗi người đều có một “miền thơ ấu” của mình, tưởng chừng đã xa, thậm chí rất xa nhưng thực tế nó vẫn đâu đây, hiện hữu trong cuộc đời ngày hôm nay. Nó là một phần đời, dù có là màu gì, tươi sáng hay mờ xám, đẹp hay buồn, hạnh phúc hay khổ đau, cũng là một dấu ấn để lại trong đời nhiều dư âm, thậm chí quyết định đến cả tương lai, số phận. Với bé Thư, ba năm sống ở quê cùng cô Gái cũng đủ đọng lại “Miền thơ ấu” đủ đầy của một đời sống thực sự gắn với những giá trị nhân văn thiêng liêng, cao quý của gia đình, quê hương, xứ sở, của đức tin, tình yêu, hi vọng, của sự sẻ chia và tinh thần hướng thiện. Cho nên, về Hà Nội, đi lễ ở nhà thờ Hàm Long, “Tôi” vẫn như thấy trước mắt gác chuông nhà thờ thân thuộc của làng mình. Sau đó, những hình ảnh đẹp đẽ, thân thuộc của cuộc sống làng quê lại ào ạt trở về trong niềm xúc động rưng rưng. Những yêu thương, gắn bó với gia đình, quê hương, với người thân, người dân là bài học đầu đời, sâu sắc nhất với cậu bé, nuôi dưỡng trong tâm hồn những tình cảm, cả những mĩ cảm thuần khiết, bền vững, tinh tế.
Những ký ức tuổi thơ ấy chuyển hoá thành sức mạnh, động lực để mỗi người chúng ta vươn lên, đi xa, tiến xa hơn. Cuộc phiêu lưu ngắn ngủi trong chuyến theo thuyền ra biển khi về thăm nhà cô Mỹ, những câu chuyện cổ tích, cả những chuyện ma được nghe khi còn ở quê nuôi dưỡng tâm hồn nhân vật “Tôi” để cậu bé theo đuổi ước mơ, khát vọng, mục tiêu riêng, trở thành nhà văn mà không thành bất cứ hình mẫu nhào nặn của ai. Bản thân một người cô rất khác – cô Mỹ - mạnh mẽ, quyết đoán, chăm chỉ, phóng khoáng, luôn chủ động, tự tin như một biểu tượng của ý thức về sự khác biệt, về nỗ lực làm chủ cuộc đời mình. Một người cô khác biệt so với những người cô khác đã khiến cậu bé thích thú, sau hiểu ra được nhiều điều, nhất là sống tích cực, không thể dựa dẫm, đợi chờ vào Chúa hay vào bất cứ ai. Đức tin quan trọng nhưng hiện thực cuộc đời, hành động mới là yếu tố quyết định. Nên khi về lại Hà Nội, sống trong vòng tay cha mẹ, cậu bé hiểu hơn công việc cha và các bác đang làm – việc cách mạng. Cậu bé bắt đầu tham gia bằng hoạt động đưa thư, sẵn sàng đương đầu, chống trả với những đứa trẻ bất hảo lớn hơn, hung hãn để bảo vệ lá thư, bảo vệ chính mình. Những năm tháng ở quê nhà đã rèn luyện, hun đúc cho bé Thư cái mạnh mẽ, quả cảm, gan góc và tinh thần sẵn sàng đương đầu với hoàn cảnh, với những hiểm nguy chăng?
Khác với “Tuổi thơ dữ dội” của Phùng Quán, là một bản anh hùng ca bi tráng về sự hi sinh, cống hiến của những chiến sĩ thiếu niên dành cho đất nước trong những ngày Huế khởi nghĩa, vượt qua hoàn cảnh để chiến đấu dũng cảm, kiên cường, hi sinh lẫm liệt, “Miền thơ ấu” mới dừng lại ở những tín hiệu ban đầu của sự chuyển biến trong cuộc đời cậu bé Thư. Nhưng chừng đó cũng đủ để ta thấy được ý nghĩa của những kỷ niệm, của tình yêu, sự gắn kết với quê hương, gia đình, những trải nghiệm trong cuộc sống khắc nghiệt có ý nghĩa lớn lao, giúp con người vươn xa. Chính cái đẹp hồn nhiên, thuần khiết của “miền thơ ấu” nuôi dưỡng mơ ước, khát vọng lớn, trong trẻo, thôi thúc mỗi chúng ta nỗ lực hết mình để biến ước mơ thành hiện thực. Và mỗi người trẻ chúng ta sống, lao động, quan sát, lắng nghe, qua thăng trầm, biến động sẽ có trách nhiệm hơn, hướng tới lý tưởng cao cả, biết cống hiến, dựng xây, bảo vệ quê hương, đất nước. Lý tưởng cao đẹp ấy bắt nguồn chính từ tấm lòng, tình cảm thiêng liêng của gia đình, dù có khắc nghiệt, có vất vả thì cũng đều vì những điều tốt, vì quan tâm, yêu thương và muốn giáo dục, nuôi dưỡng con trẻ nên người, thành một người thực sự sống có đạo – đạo đức, đạo làm người. Đó còn là tình yêu quê hương, sự gắn bó sâu nặng với xứ sở, đất nước thân yêu.
“Miền thơ ấu” hấp dẫn người đọc bởi vẻ đẹp của sự chân thành, trong sáng, hồn nhiên, tinh tế như chính tâm hồn đứa trẻ. Vũ Thư Hiên chọn một lối văn trần thuật đặc sắc gắn với người kể chuyện ngôi thứ nhất, cũng là nhân vật chính, từ điểm nhìn bên trong, kể lại chính câu chuyện của đời mình, ghi lại những ấn tượng trong ký ức như một nhiếp ảnh gia chớp được khoảnh khắc lấp lánh, tươi đẹp, lộng lẫy nhất của đời sống. Như nhà văn đã viết trong lần tái bản tác phẩm năm 2018 bằng trích lời nói của Đức Jesus: “Hãy trở nên như trẻ thơ, vì nước Thiên đàng là của chúng”, câu chuyện chính là những gì ý nghĩa, là cái đẹp vĩnh hằng, lung linh nhất. Tất cả được chuyển tải bằng ngôn ngữ văn xuôi giàu cảm xúc, giàu chất thơ, giàu hình ảnh. Đồng thời, sự kết hợp của những chi tiết thực của đời sống, những trải nghiệm cá nhân với những chi tiết hư cấu, tưởng tượng, có phần kì bí khiến thế giới “Miền thơ ấu” vừa chân thực, sống động, tái hiện cả một thời đại và cuộc sống làng quê, vừa mang ý nghĩa khái quát, phảng phất tính triết lý, suy tư. Việc lựa chọn những chi tiết đặc sắc, nhất là trong việc khắc hoạ chân dung, làm bật lên tính cách, số phận con người, để lại những hình ảnh/ hình tượng khó phai trong lòng người đọc.
Một “Miền thơ ấu” từ thăm thẳm ký ức của Vũ Thư Hiên gợi nhắc mỗi chúng ta về một miền thơ ấu, miền ký ức tuổi hoa niên của chính mình. Quá khứ, kỷ niệm luôn đồng hành, nâng đỡ, an ủi, thôi thúc mỗi chúng ta, nhất là những học sinh như chúng em, những người trẻ tuổi hướng đến tinh thần, lựa chọn lối sống tích cực, sẵn sàng trải nghiệm, cống hiến, luôn hết mình; sống bằng tấm lòng, tình yêu, sự đồng cảm, sẻ chia. “Miền thơ ấu” thăm thẳm trong ta như thế giới cổ tích huyền diệu hay những cay đắng muốn quên lãng thì đều trực tiếp hoặc gián tiếp trở thành động lực để mỗi người vươn cao, vươn xa, đến những chân trời cao rộng, tạo dựng giá trị của bản thân, đóng góp cho quê hương, đất nước, để “miền thơ ấu” lộng lẫy không chỉ là “miền ký ức” mà là đời thực tại.
Tháng 04.2026





Nhận xét
Đăng nhận xét