MỘT VÀI Ý KIẾN VỀ ĐỀ THI, ĐÁP ÁN VÀ HƯỚNG DẪN CHẤM MÔN NGỮ VĂN KỲ THI TỐT NGHIỆP 2026
1. Về đề thi
1.1. Ưu điểm
Thứ nhất, đề thi môn Ngữ bám sát nội dung, yêu cầu cần đạt của môn Ngữ văn chương trình giáo dục phổ thông 2018 và đúng theo cấu trúc đề thi mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã hướng dẫn, đã thi năm 2025. Đây là đề thi đáp ứng yêu cầu kiểm tra, đánh giá năng lực môn Ngữ văn ở những khía cạnh nhất định theo yêu cầu đổi mới của chương trình. Việc lựa chọn các Ngữ liệu ngoài sách giáo khoa không chỉ đáp ứng theo yêu cầu đổi mới của chương trình giáo dục 2018 của môn Ngữ văn mà còn thể hiện góc nhìn riêng, chủ đề xuyên suốt của đề thi, khả năng cập nhật thông tin và cảm nhận khá nhạy bén của ban ra đề. Cá nhân tôi
Thứ hai, Mức độ đề thi và tính chất các câu hỏi mang tính phân hoá rõ rệt, thể hiện ở các yêu cầu từ biết, hiểu đến vận dụng và có những ý vận dụng cao ngay trong phần đọc hiểu. Điều này đáp ứng được mục tiêu của một kỳ thi nhằm hai nhiệm vụ vừa để xét tốt nghiệp theo mặt bằng kiến thức phổ thông, vừa để tuyển sinh vào các trường đại học, trong đó có cả trường top đầu. Học sinh nắm được kiến thức và các kỹ năng cơ bản của môn học vẫn đảm bảo làm bài đạt mức độ trung bình đến khá, đảm bảo mức điểm cho xét tốt nghiệp. Còn học sinh muốn được điểm cao, nhất là mức xuất sắc cần nắm vững kiến thức, có khả năng tư duy và lập luận chặt chẽ, khả năng tổng hợp, vận dụng kiến thức nhuần nhuyễn. Đề thi như vậy sẽ không có những cơn mưa điểm 9, trên 9 (mức điểm xuất sắc) mà trong đó không trường hợp năng lực chưa tương xứng điểm thi vẫn diễn ra trong nhiều năm qua. Mức độ đề phân hoá cũng yêu cầu học sinh nếu dùng môn Ngữ văn xét tuyển vào các trường đại học phải học nghiêm túc, tích cực, có hệ thống, đảm bảo các năng lực đọc, viết chứ không phải chỉ vào phòng thi “chém gió” hoặc học tủ, hên xui.
Thứ ba, đề thi môn Ngữ văn trong kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026 là đề thi có ý tưởng tốt, ở một số phương diện nào đó là hay, có sự thay đổi táo bạo, thể hiện đúng tinh thần đổi mới, sáng tạo, kích thích người học phải tư duy, tích luỹ nền tảng vững vàng, có bề dày về kiến thức cũng như kỹ năng, nhất là ở những câu/ ý mở cần lập luận chặt chẽ, sự chủ động, linh hoạt trong xử lý vấn đề. Tinh thần của đề thi cũng bước đầu hướng tới sự khai phóng, đối thoại, tạo cơ hội để học sinh bộc lộ suy nghĩ, quan điểm riêng, thậm chí đưa ra những tra vấn, hoài nghi và lập luận để bảo vệ tư tưởng, quan điểm của mình. Nội dung đề thi hướng đến cả những vấn đề của thời đại, vấn đề về công nghệ lẫn vấn đề mang tính kinh điển, có ý nghĩa triết lý nhân sinh sâu sắc. Học sinh để đạt điểm tốt phải có cả năng lực, hiểu biết xã hội lẫn khả năng cảm thụ văn chương, tri nhận ngôn từ, hình ảnh thơ, thấu hiểu và đồng cảm với cảm xúc, tư tưởng của nhân vật trữ tình cũng như nhà thơ qua văn bản bài thơ tự do, có nhiều cách tân, sáng tạo độc đáo về hình thức nghệ thuật, ngôn ngữ thơ.
1.2. Hạn chế
Thứ nhất, phần Đọc hiểu đề thi sử dụng một Ngữ liệu chưa thật chuẩn xác theo ý nghĩa nghiêm ngặt khi sử dụng văn bản trong một cuốn sách còn nhiều tranh cãi về tính chính xác của thông tin đưa ra về việc phát minh máy in. Điều này khiến nhiều ưu điểm của đề thi bị lu mờ, gây ra những tranh cãi trên các diễn đàn và mạng xã hội. Mặt khác, nó cũng đặt ra vấn đề lựa chọn ngữ liệu ngoài sách giáo khoa cần phải thận trọng, lựa chọn những văn bản có liên quan đến tri thức khoa học cần sự chuẩn xác tuyệt đối. Các câu hỏi ở phần Đọc hiểu phân hoá tốt song vấn có những câu hỏi kiểu hơi ngô nghê kiểu “Chép lại câu văn” nhưng có những câu hỏi lại yêu cầu quá nhiều về mặt tư duy để hiểu, vận dụng như câu số 4 và câu số 5. Riêng câu hỏi số 5 có thể gây khó khăn cho học sinh ở vùng miền sâu xa, ít có cơ hội được biết, chưa nói đến việc tiếp cận, hiểu về trí tuệ nhân tạo (AI).
Thứ hai, câu hỏi gây nhiều tranh cãi nhất là câu viết đoạn văn nghị luận xã hội (khoảng 200 chữ) trả lời cho câu hỏi: “Làm thế nào để có những “Steve Job Việt Nam?”. Ý tưởng và nội dung của câu hỏi hay, chạm đến những vấn đề của cá nhân, của thời đại và đất nước. Tuy nhiên ý tưởng hay nhưng cách hỏi chưa thật chuẩn, khoa học, logic và mang tính vừa sức với học sinh bậc trung học phổ thông. Lời dẫn đưa ra ba ông Steve Job, Mark Zuckerberg, Elon Musk, … nhưng kết cục hỏi thì lấy một hình tượng Steve Job và yêu cầu nghị luận là mẫu hình, giá trị chung của cả ba, là những con người có phát minh/ đóng góp về công nghệ vượt trội, làm thay đổi thế giới. Bản thân ý hỏi làm thế nào cho một câu viết đoạn văn khoảng 200 chữ, gắn với đối tượng là học sinh 17, 18 tuổi là quá lớn, quá rộng, vượt quá tầm có thể bàn của trò. Học sinh làm bài thường sẽ trả lời chung chung, sáo mòn theo kiểu lý thuyết, ít kích thích tư duy phản biện, lập luận thể hiện quan điểm, góc nhìn riêng, có thể đối lập với những quan niệm thường thấy trong xã hội. Ý tưởng đi tìm sự sáng tạo và ý kiến cá nhân nhưng do nhiều yếu tố trong và ngoài giáo dục, học sinh ít dám thể hiện tiếng nói thật, nhất là quan điểm trái chiều, khiến ý tưởng hay, tinh thần đổi mới nhưng thực tế lại quay về những giái điều, cũ kỹ vì đa số các bạn học sinh sẽ chọn giải pháp an toàn cho một kỳ thi quan trọng.
Thứ ba, tính vừa sức chưa phù hợp. Với khoảng thời gian 120 phút, học sinh phải giải quyết nhiều nhiệm vụ, phải đọc hiểu, vận dụng kỹ năng viết, cảm thụ văn học, tư duy phản biện nhiều vấn đề, có vấn đề lớn, gai góc, mà các văn bản không đơn giản, đòi hỏi phải ngẫm nghĩ, thì khó có học sinh đáp ứng được ở mức tối đa như mong muốn. Riêng bài viết văn đóng khung trong giới hạn tối đa 600 chữ cộng trừ thêm 200 chữ khiến bài viết bị đóng khung, làm mất tính sáng tạo, sự thể hiện lối viết riêng của học sinh. Thay vì để dung lượng tối đa thì cho dung lượng tối thiểu như đề văn của Trung Quốc đang làm rất tốt. Học sinh phải tự căn thời gian làm bài để viết dung lượng mỗi câu, mỗi phần cho phù hợp, hoàn thành tốt nhất các câu hỏi, các phần.
2. Về đáp án và hướng dẫn chấm
2.1. Ưu điểm
Thứ nhất, đáp án, hướng dẫn chấm cụ thể, chi tiết, mang tính khoa học, logic, bám sát đề bài, yêu cầu của đề và của chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở môn Ngữ văn. Một số ý trong đáp án khá mở, chấp nhận những quan điểm trái chiều, những suy nghĩ, tìm tòi riêng của học sinh.
Thứ hai, Mức độ đề thi và tính chất các câu hỏi mang tính phân hoá rõ rệt, thể hiện ở các yêu cầu từ biết, hiểu đến vận dụng và có những ý vận dụng cao ngay trong phần đọc hiểu. Điều này đáp ứng được mục tiêu của một kỳ thi nhằm hai nhiệm vụ vừa để xét tốt nghiệp theo mặt bằng kiến thức phổ thông, vừa để tuyển sinh vào các trường đại học, trong đó có cả trường top đầu. Học sinh nắm được kiến thức và các kỹ năng cơ bản của môn học vẫn đảm bảo làm bài đạt mức độ trung bình đến khá, đảm bảo mức điểm cho xét tốt nghiệp. Còn học sinh muốn được điểm cao, nhất là mức xuất sắc cần nắm vững kiến thức, có khả năng tư duy và lập luận chặt chẽ, khả năng tổng hợp, vận dụng kiến thức nhuần nhuyễn. Đề thi như vậy sẽ không có những cơn mưa điểm 9, trên 9 (mức điểm xuất sắc) mà trong đó không trường hợp năng lực chưa tương xứng điểm thi vẫn diễn ra trong nhiều năm qua. Mức độ đề phân hoá cũng yêu cầu học sinh nếu dùng môn Ngữ văn xét tuyển vào các trường đại học phải học nghiêm túc, tích cực, có hệ thống, đảm bảo các năng lực đọc, viết chứ không phải chỉ vào phòng thi “chém gió” hoặc học tủ, hên xui.
Thứ ba, đề thi môn Ngữ văn trong kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026 là đề thi có ý tưởng tốt, ở một số phương diện nào đó là hay, có sự thay đổi táo bạo, thể hiện đúng tinh thần đổi mới, sáng tạo, kích thích người học phải tư duy, tích luỹ nền tảng vững vàng, có bề dày về kiến thức cũng như kỹ năng, nhất là ở những câu/ ý mở cần lập luận chặt chẽ, sự chủ động, linh hoạt trong xử lý vấn đề. Tinh thần của đề thi cũng bước đầu hướng tới sự khai phóng, đối thoại, tạo cơ hội để học sinh bộc lộ suy nghĩ, quan điểm riêng, thậm chí đưa ra những tra vấn, hoài nghi và lập luận để bảo vệ tư tưởng, quan điểm của mình. Nội dung đề thi hướng đến cả những vấn đề của thời đại, vấn đề về công nghệ lẫn vấn đề mang tính kinh điển, có ý nghĩa triết lý nhân sinh sâu sắc. Học sinh để đạt điểm tốt phải có cả năng lực, hiểu biết xã hội lẫn khả năng cảm thụ văn chương, tri nhận ngôn từ, hình ảnh thơ, thấu hiểu và đồng cảm với cảm xúc, tư tưởng của nhân vật trữ tình cũng như nhà thơ qua văn bản bài thơ tự do, có nhiều cách tân, sáng tạo độc đáo về hình thức nghệ thuật, ngôn ngữ thơ.
1.2. Hạn chế
Thứ nhất, phần Đọc hiểu đề thi sử dụng một Ngữ liệu chưa thật chuẩn xác theo ý nghĩa nghiêm ngặt khi sử dụng văn bản trong một cuốn sách còn nhiều tranh cãi về tính chính xác của thông tin đưa ra về việc phát minh máy in. Điều này khiến nhiều ưu điểm của đề thi bị lu mờ, gây ra những tranh cãi trên các diễn đàn và mạng xã hội. Mặt khác, nó cũng đặt ra vấn đề lựa chọn ngữ liệu ngoài sách giáo khoa cần phải thận trọng, lựa chọn những văn bản có liên quan đến tri thức khoa học cần sự chuẩn xác tuyệt đối. Các câu hỏi ở phần Đọc hiểu phân hoá tốt song vấn có những câu hỏi kiểu hơi ngô nghê kiểu “Chép lại câu văn” nhưng có những câu hỏi lại yêu cầu quá nhiều về mặt tư duy để hiểu, vận dụng như câu số 4 và câu số 5. Riêng câu hỏi số 5 có thể gây khó khăn cho học sinh ở vùng miền sâu xa, ít có cơ hội được biết, chưa nói đến việc tiếp cận, hiểu về trí tuệ nhân tạo (AI).
Thứ hai, câu hỏi gây nhiều tranh cãi nhất là câu viết đoạn văn nghị luận xã hội (khoảng 200 chữ) trả lời cho câu hỏi: “Làm thế nào để có những “Steve Job Việt Nam?”. Ý tưởng và nội dung của câu hỏi hay, chạm đến những vấn đề của cá nhân, của thời đại và đất nước. Tuy nhiên ý tưởng hay nhưng cách hỏi chưa thật chuẩn, khoa học, logic và mang tính vừa sức với học sinh bậc trung học phổ thông. Lời dẫn đưa ra ba ông Steve Job, Mark Zuckerberg, Elon Musk, … nhưng kết cục hỏi thì lấy một hình tượng Steve Job và yêu cầu nghị luận là mẫu hình, giá trị chung của cả ba, là những con người có phát minh/ đóng góp về công nghệ vượt trội, làm thay đổi thế giới. Bản thân ý hỏi làm thế nào cho một câu viết đoạn văn khoảng 200 chữ, gắn với đối tượng là học sinh 17, 18 tuổi là quá lớn, quá rộng, vượt quá tầm có thể bàn của trò. Học sinh làm bài thường sẽ trả lời chung chung, sáo mòn theo kiểu lý thuyết, ít kích thích tư duy phản biện, lập luận thể hiện quan điểm, góc nhìn riêng, có thể đối lập với những quan niệm thường thấy trong xã hội. Ý tưởng đi tìm sự sáng tạo và ý kiến cá nhân nhưng do nhiều yếu tố trong và ngoài giáo dục, học sinh ít dám thể hiện tiếng nói thật, nhất là quan điểm trái chiều, khiến ý tưởng hay, tinh thần đổi mới nhưng thực tế lại quay về những giái điều, cũ kỹ vì đa số các bạn học sinh sẽ chọn giải pháp an toàn cho một kỳ thi quan trọng.
Thứ ba, tính vừa sức chưa phù hợp. Với khoảng thời gian 120 phút, học sinh phải giải quyết nhiều nhiệm vụ, phải đọc hiểu, vận dụng kỹ năng viết, cảm thụ văn học, tư duy phản biện nhiều vấn đề, có vấn đề lớn, gai góc, mà các văn bản không đơn giản, đòi hỏi phải ngẫm nghĩ, thì khó có học sinh đáp ứng được ở mức tối đa như mong muốn. Riêng bài viết văn đóng khung trong giới hạn tối đa 600 chữ cộng trừ thêm 200 chữ khiến bài viết bị đóng khung, làm mất tính sáng tạo, sự thể hiện lối viết riêng của học sinh. Thay vì để dung lượng tối đa thì cho dung lượng tối thiểu như đề văn của Trung Quốc đang làm rất tốt. Học sinh phải tự căn thời gian làm bài để viết dung lượng mỗi câu, mỗi phần cho phù hợp, hoàn thành tốt nhất các câu hỏi, các phần.
2. Về đáp án và hướng dẫn chấm
2.1. Ưu điểm
Thứ nhất, đáp án, hướng dẫn chấm cụ thể, chi tiết, mang tính khoa học, logic, bám sát đề bài, yêu cầu của đề và của chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở môn Ngữ văn. Một số ý trong đáp án khá mở, chấp nhận những quan điểm trái chiều, những suy nghĩ, tìm tòi riêng của học sinh.
Thứ hai, hệ thống ý, yêu cầu trong đáp án theo mạch tư duy và tiếp cận văn bản theo đặc trưng thể loại, theo kiểu bài, định dạng câu hỏi ở các mức độ khác nhau. Điều này là một gợi mở tốt để cho giáo viên và học sinh học tập, rèn luyện, phát triển các năng lực nhất định, mang tính đặc thù của môn Ngữ văn.
Thứ ba, việc thực hiện chấm điểm bài thi theo rubric là một đổi mới quan trọng, hạn chế phần nào việc chấm văn theo cảm tính, khiến việc chấm thi khách quan hơn, kết quả nhận về của học sinh ít bị vênh, lệch hơn. Và hệ thống các yêu cầu trong rubric ở mỗi mức độ cần, thang đo cũng khá cụ thể, như những gợi mở để thực hiện đổi mới việc dạy và học môn Ngữ văn theo hướng thực tế, gắn với các năng lực chung và năng lực đặc thù của bộ môn trong nhà trường phổ thông.
2.2. Hạn chế
Thứ nhất, đề thi có nhiều câu, ý mở nhưng sự thể hiện tính chất mở ở đáp án không rõ ràng, cụ thể, ứng với các câu, ý trong từng phần, từng yêu cầu. Ngoài những yêu cầu chung, và mệnh đề chấp nhận cách diễn đạt tương đương thì trong các nội dung của từng câu, ý ở đáp án, hướng dẫn chấm không đề cập cụ thể học sinh nói khác, trình bày khác, thể hiện quan điểm, cảm nhận khác sẽ cho điểm ra sao, mức độ đánh giá như thế nào?
Thứ hai, vì đáp án làm kết hợp với rubric đánh giá nên quá chi tiết thành vụn vặt. Cách trình bày những ý nhỏ li ti khiến đáp án rối, giám khảo khó hình dung, nắm bắt để đánh giá với sự phong phú trong cách thể hiện, trình bày, lập luận trên thực tế bài làm của học sinh. Cũng chính vì lý do đó, mặt sáng tạo của bộ môn, của bài làm bị hạn chế, không được đánh giá, hoặc khuyến khích thêm điểm. Toàn bộ đáp án, rubric đánh giá không có mục nào, ý nào cho điểm, tính điểm hay thưởng điểm sáng tạo, mà đây mới là điều cần ở bộ môn Ngữ văn. Dẫu vẫn biết trong mỗi ý, mỗi khía cạnh của đáp án ứng với các câu hỏi đều dành một phần nào đó cho cách diễn giải khác hợp lý, vẫn cho điểm (sáng tạo). Tuy nhiên, trong trường hợp học sinh vừa đáp ứng được những yêu cầu của đáp án, lại vừa thêm những sáng tạo khác, những phát hiện tinh tế, sâu sắc thì điểm cũng không có gì thay đổi, vẫn ở một cái khung đóng vào các ý. Điểm tổng vẫn giống như các học sinh chỉ đúng đủ.
Thứ ba, đáp án và rubric chấm tạo ra một kiểu đánh giá công thức, mô hình hoá, dẫn tới kiểu đếm ý, đếm chữ cho điểm. Bài thi Ngữ văn, kể cả câu cần sự sáng tạo, mang dấu ấn riêng là cảm thụ một bài thơ cũng theo đúng một form, mẫu cụ thể. Lệch hướng, hoặc chỉ xoáy vào một phương diện và có cảm thụ mới mẻ có khi điểm thấp hơn những học sinh làm theo công thức, chỉ cần đúng, đủ theo barem, theo các mã hoá yêu cầu trong rubric.
Thứ tư, rubric làm rườm ra, rối và nhìn vào khó nhớ, không đồng bộ cùng đáp án nên gây khó khăn cho giám khảo chấm. Và với việc phải cầm cả một tập đáp án, hướng dẫn chấm, rubric như vậy thì rất có thể giám khảo không nhớ được hết các mức độ, yêu cầu và gây ra việc đánh giá sai, lệch với mức độ bài làm của học sinh. Bản chất Ngữ văn là môn mang tính đánh giá định tính nên lượng hoá không thể hết mọi trường hợp phát sinh. Mặt khác, nhìn vào các thang đo, yêu cầu đánh giá ở rubric thì thấy rõ nhiều yêu cầu đang đánh đồng các mức độ bài làm, nhất là mức độ yêu cầu đạt 0,25 điểm. Vẫn biết với thang điểm 10, điểm 0,25 với môn Ngữ văn là nhỏ nhất, không thể chia tiếp song nếu một bài viết, cùng một ý, một nội dung mà học sinh đáp ứng 3 yêu cầu cũng như học sinh chỉ đáp ứng một yêu cầu, vẫn cho mức điểm như nhau thì đánh giá không chuẩn, gây thiệt thòi cho những học sinh làm tốt, thậm chí vượt đáp án. Đánh giá như vậy cũng không đảm bảo tính công bằng, không trân trọng những học sinh vượt trội, không khuyến khích sự tìm tòi. Và với không ít nhà trường, giáo viên luyện thi, việc lượng hoá chấm theo rubric mà nhiều yêu cầu chỉ cần mức tối thiểu, đạt được một tiêu chí đã được 0,25 điểm tối đa như học sinh đạt được cả ba, thậm chí bốn tiêu chí thì dẫn tới dạy văn theo công thức, bài càng đúng công thức, có khi chỉ đủ mức tối thiểu cũng được đánh giá cao ngang với những bài đạt được nhiều tiêu chí hơn.
Thứ năm, vẫn là rubric đánh giá và hướng dẫn chấm không tương xứng với yêu cầu của đề bài. Đề bài yêu cầu hình thức, dung lượng, nhất là đoạn văn. Nhưng với yêu cầu hình thức và ngôn ngữ chỉ được 0,25 điểm, học sinh đáp ứng được một tiêu chí sẽ được điểm, không có trừ. Vậy nên, học sinh có viết không đảm bảo hình thức đoạn văn thì vẫn đạt điểm phần này do đảm bảo tiêu chí còn lại. Và như vậy, những yêu cầu ở đề bài như một hình thức bắt buộc kết cục chẳng để làm gì, bị phá sản ngay trong chính yêu cầu chấm từ hướng dẫn và rubric đánh giá. Có thể đáp án, hướng dẫn chấm, rubric đánh giá đã phân hoá được học sinh ở các mức yếu, trung bình, khá, giỏi, xuất sắc nhưng cụ thể trong từng mức đó, quy chiếu ra điểm số thì lại bị đánh đồng, và ít nhiều phụ thuộc đánh giá cảm tính của người chấm. Trong khi đó, một mức đánh giá lại ở nhiều ngưỡng điểm khác nhau, chỉ chênh lệch 0,25 đã quyết định học sinh có thể đỗ đại học theo đúng nguyện vọng hay lận đận 15 nguyện vọng không thể đỗ nguyện vọng nào.
3. Về việc thi cử, nguyên tắc đánh giá bài làm môn Ngữ văn của học sinh và những năng lực học sinh cần chuẩn bị trong thời gian tới
3.1. Về đề thi tốt nghiệp môn Ngữ văn
Thứ nhất, câu hỏi băn khoăn từ nhận xét về đề thi bên trên rằng trong thời gian 120 phút, học sinh phải giải quyết 5 câu hỏi đọc hiểu ở các mức độ khác nhau, một câu hỏi viết đoạn văn, một câu viết bài luận; phải xử lý hai văn bản thuộc hai loại hình khác nhau liệu có vừa sức? Và với đặc thù bộ môn Ngữ văn vừa có yếu tố sử dụng ngôn ngữ, tư duy khoa học, logic, khả năng hiểu biết xã hội đến những năng lực văn học về tạo lập văn bản, cảm thụ, phân tích, diễn giải tác phẩm, tri thức về thể loại, tác giả, lịch sử văn học, … thì liệu một cấu trúc đề thi như hiện tại đã đánh giá đúng, đủ, chính xác hay chưa? Nhìn sang các nước có nền giáo dục tốt hơn, hiện đại và phát triển hơn chúng ta bên châu Âu, Mỹ hay Trung Quốc, đề thi tú tài, tuyển sinh đại học môn Văn của họ khác hẳn chúng ta, gần như chỉ yêu cầu viết một bài luận, không hạn chế dung lượng tối đa mà chỉ quy định dung lượng tối thiểu. Qua hai năm thi theo chương trình giáo dục phổ thông 2018 môn Ngữ văn, chúng ta cần xem xét lại về cấu trúc đề thi, về quy định dung lượng bài viết bởi đến giờ này cá nhân tôi vẫn không biết xuất phát từ cơ sở khoa học nào, căn cứ thực tiễn từ những khảo sát, thống kê nào mà đưa ra con số tối đa 600 chữ được mở rộng thêm 200 chữ cho mọi loại bài văn nghị luận, cho mọi học sinh ở các mức độ năng lực khác nhau?
Thứ hai, sở dĩ đề thi môn Ngữ văn trong kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026 bị dư luận có những đánh giá tiêu cực do đề thi cho hai mục đích, xét tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học. Đây là hai kỳ thi khác nhau hoàn toàn về tính chất, mức độ, mục đích nên khó tìm được một đề thi dung hoà được cả hai mục đích đó. Điều này không chỉ là vấn đề của môn Ngữ văn mà còn là của cả những môn khác nữa song do đặc thù là môn văn – tiếng Việt nên Ngữ văn bị/ được cộng đồng quan tâm, đánh giá nhiều, dễ dàng hơn.
Trở lại vấn đề một đề thi cho hai mục đích, nếu nghiêng về chỉ cho tốt nghiệp sẽ việc tuyển sinh khó khăn vì những cơn mưa điểm 9 và 9+ ở môn Ngữ văn, điểm 10 ở các môn khác. Nếu đề thi phân hoá cao, yêu cầu nhiều về hiểu, vận dụng như năm nay thì gây khó khăn và bức xúc cho học sinh chỉ thi để xét tốt nghiệp. Mức độ yêu cầu để xét tốt nghiệp khác cơ bản, ở mức độ trung bình. Nhưng với một đề thi dùng để xét đại học thì bản thân học sinh đọc bị sốc, choáng sẽ mất tinh thần làm bài, kể cả những mức độ yêu cầu trung bình cần đạt được để xét tốt nghiệp.
Thiết nghĩ, đã đến lúc Bộ Giáo dục cần nhìn nhận một cách nghiêm túc về hiệu quả của việc ghép hai kỳ thi vào một. Bởi thực tế, do cơ chế tự chủ, hiện nay nhiều trường đại học tự tổ chức các kỳ thi riêng, mà đề thi, cách thức thi cử, đánh giá thì đúng kiểu muôn hình vạn trạng, “trăm hoa đua nở”, nói đánh giá năng lực Ngữ văn nhưng thực tế nhiều năng lực của học sinh không đánh giá đúng/ hoặc không đánh giá được. Đề thi cũng nhiều lỗi, thậm chí học sinh đi thi về nói kiến thức kiểm tra không có trong chương trình phổ thông 2018, mà ở chương trình 2006, những kiến thức đã giảm tải. Mục đích để tiết kiệm, tránh gánh nặng và vất vả cho học sinh, phụ huynh khi đi thi đại học cũng không đạt được. Thay vì thi một, hai đợt, theo cấu trúc ổn định, đảm bảo đúng chuẩn chương trình học thì hiện nay học sinh phải học trực tiếp hoặc online nhiều lớp, theo các yêu cầu của từng hình thức thi ở các trường tự tổ chức. Tiền bạc, sức lực, thời gian, đi lại (dù nhiều trường đã tổ chức thi ở các khu vực) nhưng vẫn khá tốn kém, phức tạp. Trong khi đó, mục đích xét tốt nghiệp thì đề thi lại quá nặng, gây tâm lý cực đoan cho học sinh, phụ huynh cũng như nhân dân trong cả nước.
Thứ ba, chương trình mới đặt ra yêu cầu lấy ngữ liệu văn bản ngoài sách giáo khoa. Tuy nhiên những yêu cầu, tiêu chí lựa chọn gần như bỏ ngỏ, không có văn bản, thể thức, hoặc mã hoá thành các yêu cầu chung. Vì thế, ngay đề thi tốt nghiệp môn Ngữ văn năm nay, dù chọn văn bản khá tốt nhưng vẫn còn đó là sạn thông tin chưa thật chính xác. Chưa nói đến đề thi ở các tỉnh (có thể quan sát qua đề thi vào lớp 10) chọn, cắt ngữ liệu không theo bất cứ một quy chuẩn thống nhất nào cả về nội dung, tư tưởng, thể loại lẫn hình thức trình bày.
3.2. Nguyên tắc đánh giá đối với bài làm của học sinh
Thứ nhất, cần một cách thức đánh giá đảm bảo được mức độ chuẩn hoá như rubric ở một số khía cạnh nhưng cũng cần trân trọng, đánh giá sự sáng tạo của học sinh. Không thể ghi vài dòng lưu ý chung mà cần cụ thể hoá thành yêu cầu, mức độ trong rubric, trong đáp án của từng câu, thậm chí từng ý.
Thứ hai, nếu vẫn sử dụng rubric, để đảm bảo tính công bằng, đánh giá được năng lực văn cả về kiến thức, kỹ năng, tư duy, sự cảm thụ, rung động của học sinh qua bài thi cần thiết kế lại, cần chia nhỏ hơn mức độ đạt được ở các ý, nội dung chấm, không thể đánh đồng học sinh đạt mức tối thiểu và mức tối đa cùng số điểm, dù theo quan điểm hiện nay, điểm đó là nhỏ nhất, không thể chia. Song nhìn qua các môn thi khác, điểm thi được đánh giá tới 0,05. Hoặc có thể, rubric chấm môn văn phải nới rộng thang điểm có thể 20 điểm, 50 điểm, thậm chí 100 điểm, chia làm nhiều mức độ khác nhau trong cùng một nội dung, rồi sau đó quy đổi về thang điểm 10,0.
Thứ ba, đáp án cần mở, tức là đưa ra các khả năng, các tình huống phổ biến nhất có thể xảy ra chứ không phải vì chấm theo rubric mà chẻ nhỏ li ti vấn đề thành những nội dung mặc định, trong khi bản thân hình tượng, ngôn từ văn học đa nghĩa. Điểm của các kỹ năng thì rõ nhưng điểm sáng tạo, mở rộng, tìm tòi khá ít, hoặc chưa thể hiện cụ thể thành tiêu chí đánh giá trong rubric hay ý trong đáp án.
Thứ tư, tính khách quan: Điều quan trọng của việc chấm thi là khách quan. Dĩ nhiên với việc sử dụng rubric đánh giá cũng hạn chế phần nào tính chủ quan. Nhưng không ai và cũng không đủ lực lượng thanh, kiểm tra toàn bộ bài chấm tự luận môn Ngữ văn ở 34 tỉnh, thành phố. Cho nên, đáp án, hướng dẫn chấm có song việc áp dụng/ vận dụng chấm trên bài của học sinh thì mỗi nơi mỗi khác, không giống nhau. Và khi giám khảo còn chấm cho chính học sinh tỉnh mình thì nguyên tắc này đã bị vi phạm. Gắn với con người, lại liên quan trực tiếp đến kết qủa học sinh tỉnh nhà thì khó có thể nói việc chấm thi hoàn toàn khách quan hay tuận thủ tuyệt đối theo yêu cầu của đáp án, hướng dẫn chấm hay rubric. Nên/ cần quá trình chấm khách quan với bài không phải học sinh của tỉnh nhà, cũng không biết cụ thể học sinh chấm ở đâu thì mới có kết qủa khách quan, chính xác, công bằng cho học sinh.
3.3. Những năng lực học sinh cần chuẩn bị trong thời gian tới
Là một giáo viên trực tiếp phụ trách tổ chấm, có tham gia chấm thi của hai năm trở lại đây – hai năm thi theo chương trình phổ thông 2018 mới, bản thân tôi thấy khá nhiều bài của học sinh khá yếu về kiến thức nền tảng cũng như các kỹ năng.
Điều đầu tiên, quan trọng nhất vẫn là sự chuẩn bị kiến thức, kỹ năng nền tảng, bám sát chương trình giáo dục phổ thông 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, được cụ thể hoá thành các chủ đề, bài học, kỹ năng trong sách giáo khoa. Đó là những kiến thức nền tảng về thể loại/ kiểu văn bản; các dạng bài viết; các mức độ câu hỏi theo đặc trưng thể loại; cách thức tư duy, tiếp cận vấn đề.
Thứ hai, học sinh phải trang bị thật kỹ, đầy đủ, sâu sắc kỹ năng đọc hiểu văn bản các loại. Bởi dù đọc hiểu hay viết bài luận thì đều bắt đầu từ việc đọc hiểu để hiểu để, yêu cầu câu hỏi, ngữ liệu, …
Thứ ba, khả năng vận dụng kiến thức, giải quyết vấn đề trong các trường hợp, tình huống cụ thể gắn với từng kiểu văn bản là rất cần thiết. Học theo chương trình mới là học cách thức, phương pháp, học tư duy chứ không phải học thuộc, học vẹt, học tủ. Bản thân chương trình Ngữ văn phổ thông 2018 biên soạn theo hướng đồng tâm thể loại và chủ đề nên kiến thức, kỹ năng xuyên suốt bậc học THPT, thậm chí cả bậc THCS. Do đó, học sinh cần biết tổng hợp kiến thức, không ngừng rèn các kỹ năng cơ bản để đạt được mức độ nhuần nhuyễn, linh hoạt.
Thứ ba, cả giáo viên và học sinh đều cần chuẩn bị sự sáng tạo, khả năng tìm tòi, tư duy độc lập, chủ động trong học tập. Để học sinh trả lời, làm tốt các câu hỏi/ ý hỏi mở thì cần tư tưởng, môi trường giáo dục mở, mang tính khai phóng, tôn trọng sự khác biệt, biết lắng nghe và khuyến khích mọi ý tưởng, quan điểm, góc nhìn riêng. Do đó, đánh giá không phải theo barem cố định hay kiểu tư duy nhị phân đúng – sai mà cần đánh giá khả năng lập luận, tư duy, diễn giải, lý giải vấn đề.
Thứ tư, khả năng tự học, những khao khát tìm tòi, khám phá; luôn băn khoăn đi tìm cội nguồn vấn đề. Đặc biệt, học sinh cần rèn tư duy phản biện, khả năng hoài nghi khoa học; sự tự tin và khao khát thể hiện bản thân, vượt qua các giới hạn của chính mình trong học tập, mở rộng tầm nhìn, bắt kịp với tốc độ phát triển như vũ bão, với những thay đổi từng ngày do sự phát triển vượt bậc của công nghệ hiện nay.
6/2026
Thứ ba, việc thực hiện chấm điểm bài thi theo rubric là một đổi mới quan trọng, hạn chế phần nào việc chấm văn theo cảm tính, khiến việc chấm thi khách quan hơn, kết quả nhận về của học sinh ít bị vênh, lệch hơn. Và hệ thống các yêu cầu trong rubric ở mỗi mức độ cần, thang đo cũng khá cụ thể, như những gợi mở để thực hiện đổi mới việc dạy và học môn Ngữ văn theo hướng thực tế, gắn với các năng lực chung và năng lực đặc thù của bộ môn trong nhà trường phổ thông.
2.2. Hạn chế
Thứ nhất, đề thi có nhiều câu, ý mở nhưng sự thể hiện tính chất mở ở đáp án không rõ ràng, cụ thể, ứng với các câu, ý trong từng phần, từng yêu cầu. Ngoài những yêu cầu chung, và mệnh đề chấp nhận cách diễn đạt tương đương thì trong các nội dung của từng câu, ý ở đáp án, hướng dẫn chấm không đề cập cụ thể học sinh nói khác, trình bày khác, thể hiện quan điểm, cảm nhận khác sẽ cho điểm ra sao, mức độ đánh giá như thế nào?
Thứ hai, vì đáp án làm kết hợp với rubric đánh giá nên quá chi tiết thành vụn vặt. Cách trình bày những ý nhỏ li ti khiến đáp án rối, giám khảo khó hình dung, nắm bắt để đánh giá với sự phong phú trong cách thể hiện, trình bày, lập luận trên thực tế bài làm của học sinh. Cũng chính vì lý do đó, mặt sáng tạo của bộ môn, của bài làm bị hạn chế, không được đánh giá, hoặc khuyến khích thêm điểm. Toàn bộ đáp án, rubric đánh giá không có mục nào, ý nào cho điểm, tính điểm hay thưởng điểm sáng tạo, mà đây mới là điều cần ở bộ môn Ngữ văn. Dẫu vẫn biết trong mỗi ý, mỗi khía cạnh của đáp án ứng với các câu hỏi đều dành một phần nào đó cho cách diễn giải khác hợp lý, vẫn cho điểm (sáng tạo). Tuy nhiên, trong trường hợp học sinh vừa đáp ứng được những yêu cầu của đáp án, lại vừa thêm những sáng tạo khác, những phát hiện tinh tế, sâu sắc thì điểm cũng không có gì thay đổi, vẫn ở một cái khung đóng vào các ý. Điểm tổng vẫn giống như các học sinh chỉ đúng đủ.
Thứ ba, đáp án và rubric chấm tạo ra một kiểu đánh giá công thức, mô hình hoá, dẫn tới kiểu đếm ý, đếm chữ cho điểm. Bài thi Ngữ văn, kể cả câu cần sự sáng tạo, mang dấu ấn riêng là cảm thụ một bài thơ cũng theo đúng một form, mẫu cụ thể. Lệch hướng, hoặc chỉ xoáy vào một phương diện và có cảm thụ mới mẻ có khi điểm thấp hơn những học sinh làm theo công thức, chỉ cần đúng, đủ theo barem, theo các mã hoá yêu cầu trong rubric.
Thứ tư, rubric làm rườm ra, rối và nhìn vào khó nhớ, không đồng bộ cùng đáp án nên gây khó khăn cho giám khảo chấm. Và với việc phải cầm cả một tập đáp án, hướng dẫn chấm, rubric như vậy thì rất có thể giám khảo không nhớ được hết các mức độ, yêu cầu và gây ra việc đánh giá sai, lệch với mức độ bài làm của học sinh. Bản chất Ngữ văn là môn mang tính đánh giá định tính nên lượng hoá không thể hết mọi trường hợp phát sinh. Mặt khác, nhìn vào các thang đo, yêu cầu đánh giá ở rubric thì thấy rõ nhiều yêu cầu đang đánh đồng các mức độ bài làm, nhất là mức độ yêu cầu đạt 0,25 điểm. Vẫn biết với thang điểm 10, điểm 0,25 với môn Ngữ văn là nhỏ nhất, không thể chia tiếp song nếu một bài viết, cùng một ý, một nội dung mà học sinh đáp ứng 3 yêu cầu cũng như học sinh chỉ đáp ứng một yêu cầu, vẫn cho mức điểm như nhau thì đánh giá không chuẩn, gây thiệt thòi cho những học sinh làm tốt, thậm chí vượt đáp án. Đánh giá như vậy cũng không đảm bảo tính công bằng, không trân trọng những học sinh vượt trội, không khuyến khích sự tìm tòi. Và với không ít nhà trường, giáo viên luyện thi, việc lượng hoá chấm theo rubric mà nhiều yêu cầu chỉ cần mức tối thiểu, đạt được một tiêu chí đã được 0,25 điểm tối đa như học sinh đạt được cả ba, thậm chí bốn tiêu chí thì dẫn tới dạy văn theo công thức, bài càng đúng công thức, có khi chỉ đủ mức tối thiểu cũng được đánh giá cao ngang với những bài đạt được nhiều tiêu chí hơn.
Thứ năm, vẫn là rubric đánh giá và hướng dẫn chấm không tương xứng với yêu cầu của đề bài. Đề bài yêu cầu hình thức, dung lượng, nhất là đoạn văn. Nhưng với yêu cầu hình thức và ngôn ngữ chỉ được 0,25 điểm, học sinh đáp ứng được một tiêu chí sẽ được điểm, không có trừ. Vậy nên, học sinh có viết không đảm bảo hình thức đoạn văn thì vẫn đạt điểm phần này do đảm bảo tiêu chí còn lại. Và như vậy, những yêu cầu ở đề bài như một hình thức bắt buộc kết cục chẳng để làm gì, bị phá sản ngay trong chính yêu cầu chấm từ hướng dẫn và rubric đánh giá. Có thể đáp án, hướng dẫn chấm, rubric đánh giá đã phân hoá được học sinh ở các mức yếu, trung bình, khá, giỏi, xuất sắc nhưng cụ thể trong từng mức đó, quy chiếu ra điểm số thì lại bị đánh đồng, và ít nhiều phụ thuộc đánh giá cảm tính của người chấm. Trong khi đó, một mức đánh giá lại ở nhiều ngưỡng điểm khác nhau, chỉ chênh lệch 0,25 đã quyết định học sinh có thể đỗ đại học theo đúng nguyện vọng hay lận đận 15 nguyện vọng không thể đỗ nguyện vọng nào.
3. Về việc thi cử, nguyên tắc đánh giá bài làm môn Ngữ văn của học sinh và những năng lực học sinh cần chuẩn bị trong thời gian tới
3.1. Về đề thi tốt nghiệp môn Ngữ văn
Thứ nhất, câu hỏi băn khoăn từ nhận xét về đề thi bên trên rằng trong thời gian 120 phút, học sinh phải giải quyết 5 câu hỏi đọc hiểu ở các mức độ khác nhau, một câu hỏi viết đoạn văn, một câu viết bài luận; phải xử lý hai văn bản thuộc hai loại hình khác nhau liệu có vừa sức? Và với đặc thù bộ môn Ngữ văn vừa có yếu tố sử dụng ngôn ngữ, tư duy khoa học, logic, khả năng hiểu biết xã hội đến những năng lực văn học về tạo lập văn bản, cảm thụ, phân tích, diễn giải tác phẩm, tri thức về thể loại, tác giả, lịch sử văn học, … thì liệu một cấu trúc đề thi như hiện tại đã đánh giá đúng, đủ, chính xác hay chưa? Nhìn sang các nước có nền giáo dục tốt hơn, hiện đại và phát triển hơn chúng ta bên châu Âu, Mỹ hay Trung Quốc, đề thi tú tài, tuyển sinh đại học môn Văn của họ khác hẳn chúng ta, gần như chỉ yêu cầu viết một bài luận, không hạn chế dung lượng tối đa mà chỉ quy định dung lượng tối thiểu. Qua hai năm thi theo chương trình giáo dục phổ thông 2018 môn Ngữ văn, chúng ta cần xem xét lại về cấu trúc đề thi, về quy định dung lượng bài viết bởi đến giờ này cá nhân tôi vẫn không biết xuất phát từ cơ sở khoa học nào, căn cứ thực tiễn từ những khảo sát, thống kê nào mà đưa ra con số tối đa 600 chữ được mở rộng thêm 200 chữ cho mọi loại bài văn nghị luận, cho mọi học sinh ở các mức độ năng lực khác nhau?
Thứ hai, sở dĩ đề thi môn Ngữ văn trong kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026 bị dư luận có những đánh giá tiêu cực do đề thi cho hai mục đích, xét tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học. Đây là hai kỳ thi khác nhau hoàn toàn về tính chất, mức độ, mục đích nên khó tìm được một đề thi dung hoà được cả hai mục đích đó. Điều này không chỉ là vấn đề của môn Ngữ văn mà còn là của cả những môn khác nữa song do đặc thù là môn văn – tiếng Việt nên Ngữ văn bị/ được cộng đồng quan tâm, đánh giá nhiều, dễ dàng hơn.
Trở lại vấn đề một đề thi cho hai mục đích, nếu nghiêng về chỉ cho tốt nghiệp sẽ việc tuyển sinh khó khăn vì những cơn mưa điểm 9 và 9+ ở môn Ngữ văn, điểm 10 ở các môn khác. Nếu đề thi phân hoá cao, yêu cầu nhiều về hiểu, vận dụng như năm nay thì gây khó khăn và bức xúc cho học sinh chỉ thi để xét tốt nghiệp. Mức độ yêu cầu để xét tốt nghiệp khác cơ bản, ở mức độ trung bình. Nhưng với một đề thi dùng để xét đại học thì bản thân học sinh đọc bị sốc, choáng sẽ mất tinh thần làm bài, kể cả những mức độ yêu cầu trung bình cần đạt được để xét tốt nghiệp.
Thiết nghĩ, đã đến lúc Bộ Giáo dục cần nhìn nhận một cách nghiêm túc về hiệu quả của việc ghép hai kỳ thi vào một. Bởi thực tế, do cơ chế tự chủ, hiện nay nhiều trường đại học tự tổ chức các kỳ thi riêng, mà đề thi, cách thức thi cử, đánh giá thì đúng kiểu muôn hình vạn trạng, “trăm hoa đua nở”, nói đánh giá năng lực Ngữ văn nhưng thực tế nhiều năng lực của học sinh không đánh giá đúng/ hoặc không đánh giá được. Đề thi cũng nhiều lỗi, thậm chí học sinh đi thi về nói kiến thức kiểm tra không có trong chương trình phổ thông 2018, mà ở chương trình 2006, những kiến thức đã giảm tải. Mục đích để tiết kiệm, tránh gánh nặng và vất vả cho học sinh, phụ huynh khi đi thi đại học cũng không đạt được. Thay vì thi một, hai đợt, theo cấu trúc ổn định, đảm bảo đúng chuẩn chương trình học thì hiện nay học sinh phải học trực tiếp hoặc online nhiều lớp, theo các yêu cầu của từng hình thức thi ở các trường tự tổ chức. Tiền bạc, sức lực, thời gian, đi lại (dù nhiều trường đã tổ chức thi ở các khu vực) nhưng vẫn khá tốn kém, phức tạp. Trong khi đó, mục đích xét tốt nghiệp thì đề thi lại quá nặng, gây tâm lý cực đoan cho học sinh, phụ huynh cũng như nhân dân trong cả nước.
Thứ ba, chương trình mới đặt ra yêu cầu lấy ngữ liệu văn bản ngoài sách giáo khoa. Tuy nhiên những yêu cầu, tiêu chí lựa chọn gần như bỏ ngỏ, không có văn bản, thể thức, hoặc mã hoá thành các yêu cầu chung. Vì thế, ngay đề thi tốt nghiệp môn Ngữ văn năm nay, dù chọn văn bản khá tốt nhưng vẫn còn đó là sạn thông tin chưa thật chính xác. Chưa nói đến đề thi ở các tỉnh (có thể quan sát qua đề thi vào lớp 10) chọn, cắt ngữ liệu không theo bất cứ một quy chuẩn thống nhất nào cả về nội dung, tư tưởng, thể loại lẫn hình thức trình bày.
3.2. Nguyên tắc đánh giá đối với bài làm của học sinh
Thứ nhất, cần một cách thức đánh giá đảm bảo được mức độ chuẩn hoá như rubric ở một số khía cạnh nhưng cũng cần trân trọng, đánh giá sự sáng tạo của học sinh. Không thể ghi vài dòng lưu ý chung mà cần cụ thể hoá thành yêu cầu, mức độ trong rubric, trong đáp án của từng câu, thậm chí từng ý.
Thứ hai, nếu vẫn sử dụng rubric, để đảm bảo tính công bằng, đánh giá được năng lực văn cả về kiến thức, kỹ năng, tư duy, sự cảm thụ, rung động của học sinh qua bài thi cần thiết kế lại, cần chia nhỏ hơn mức độ đạt được ở các ý, nội dung chấm, không thể đánh đồng học sinh đạt mức tối thiểu và mức tối đa cùng số điểm, dù theo quan điểm hiện nay, điểm đó là nhỏ nhất, không thể chia. Song nhìn qua các môn thi khác, điểm thi được đánh giá tới 0,05. Hoặc có thể, rubric chấm môn văn phải nới rộng thang điểm có thể 20 điểm, 50 điểm, thậm chí 100 điểm, chia làm nhiều mức độ khác nhau trong cùng một nội dung, rồi sau đó quy đổi về thang điểm 10,0.
Thứ ba, đáp án cần mở, tức là đưa ra các khả năng, các tình huống phổ biến nhất có thể xảy ra chứ không phải vì chấm theo rubric mà chẻ nhỏ li ti vấn đề thành những nội dung mặc định, trong khi bản thân hình tượng, ngôn từ văn học đa nghĩa. Điểm của các kỹ năng thì rõ nhưng điểm sáng tạo, mở rộng, tìm tòi khá ít, hoặc chưa thể hiện cụ thể thành tiêu chí đánh giá trong rubric hay ý trong đáp án.
Thứ tư, tính khách quan: Điều quan trọng của việc chấm thi là khách quan. Dĩ nhiên với việc sử dụng rubric đánh giá cũng hạn chế phần nào tính chủ quan. Nhưng không ai và cũng không đủ lực lượng thanh, kiểm tra toàn bộ bài chấm tự luận môn Ngữ văn ở 34 tỉnh, thành phố. Cho nên, đáp án, hướng dẫn chấm có song việc áp dụng/ vận dụng chấm trên bài của học sinh thì mỗi nơi mỗi khác, không giống nhau. Và khi giám khảo còn chấm cho chính học sinh tỉnh mình thì nguyên tắc này đã bị vi phạm. Gắn với con người, lại liên quan trực tiếp đến kết qủa học sinh tỉnh nhà thì khó có thể nói việc chấm thi hoàn toàn khách quan hay tuận thủ tuyệt đối theo yêu cầu của đáp án, hướng dẫn chấm hay rubric. Nên/ cần quá trình chấm khách quan với bài không phải học sinh của tỉnh nhà, cũng không biết cụ thể học sinh chấm ở đâu thì mới có kết qủa khách quan, chính xác, công bằng cho học sinh.
3.3. Những năng lực học sinh cần chuẩn bị trong thời gian tới
Là một giáo viên trực tiếp phụ trách tổ chấm, có tham gia chấm thi của hai năm trở lại đây – hai năm thi theo chương trình phổ thông 2018 mới, bản thân tôi thấy khá nhiều bài của học sinh khá yếu về kiến thức nền tảng cũng như các kỹ năng.
Điều đầu tiên, quan trọng nhất vẫn là sự chuẩn bị kiến thức, kỹ năng nền tảng, bám sát chương trình giáo dục phổ thông 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, được cụ thể hoá thành các chủ đề, bài học, kỹ năng trong sách giáo khoa. Đó là những kiến thức nền tảng về thể loại/ kiểu văn bản; các dạng bài viết; các mức độ câu hỏi theo đặc trưng thể loại; cách thức tư duy, tiếp cận vấn đề.
Thứ hai, học sinh phải trang bị thật kỹ, đầy đủ, sâu sắc kỹ năng đọc hiểu văn bản các loại. Bởi dù đọc hiểu hay viết bài luận thì đều bắt đầu từ việc đọc hiểu để hiểu để, yêu cầu câu hỏi, ngữ liệu, …
Thứ ba, khả năng vận dụng kiến thức, giải quyết vấn đề trong các trường hợp, tình huống cụ thể gắn với từng kiểu văn bản là rất cần thiết. Học theo chương trình mới là học cách thức, phương pháp, học tư duy chứ không phải học thuộc, học vẹt, học tủ. Bản thân chương trình Ngữ văn phổ thông 2018 biên soạn theo hướng đồng tâm thể loại và chủ đề nên kiến thức, kỹ năng xuyên suốt bậc học THPT, thậm chí cả bậc THCS. Do đó, học sinh cần biết tổng hợp kiến thức, không ngừng rèn các kỹ năng cơ bản để đạt được mức độ nhuần nhuyễn, linh hoạt.
Thứ ba, cả giáo viên và học sinh đều cần chuẩn bị sự sáng tạo, khả năng tìm tòi, tư duy độc lập, chủ động trong học tập. Để học sinh trả lời, làm tốt các câu hỏi/ ý hỏi mở thì cần tư tưởng, môi trường giáo dục mở, mang tính khai phóng, tôn trọng sự khác biệt, biết lắng nghe và khuyến khích mọi ý tưởng, quan điểm, góc nhìn riêng. Do đó, đánh giá không phải theo barem cố định hay kiểu tư duy nhị phân đúng – sai mà cần đánh giá khả năng lập luận, tư duy, diễn giải, lý giải vấn đề.
Thứ tư, khả năng tự học, những khao khát tìm tòi, khám phá; luôn băn khoăn đi tìm cội nguồn vấn đề. Đặc biệt, học sinh cần rèn tư duy phản biện, khả năng hoài nghi khoa học; sự tự tin và khao khát thể hiện bản thân, vượt qua các giới hạn của chính mình trong học tập, mở rộng tầm nhìn, bắt kịp với tốc độ phát triển như vũ bão, với những thay đổi từng ngày do sự phát triển vượt bậc của công nghệ hiện nay.
6/2026

Nhận xét
Đăng nhận xét